nghệ thuật chí phèo
Câu 3: Tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối chung sống. Câu 4: Nghệ thuật điển hình hóa nhân vật đặc sắc và tư tưởng nhân đạo của Nam Cao. Câu 5: Đặc sắc trong ngôn ngữ kể chuyện của tác giả và ngôn ngữ nhân vật.
Chí Phèo - Nghệ thuật thoát ra từ những kiếp lầm than. "Nam Cao đã không hạ mình xuống bắt chước ai, không nói những cái người ta đã nói, không tả theo cái lối người ta đã tả. Ông đã dám bước chân vào làng văn với những cạnh sắc của riêng mình. Những cạnh sắc
Công nghệ; Git LFS - Chí Phèo và nồi cháo hành của Thị Nở PNG thì mọi chuyện lại khác, hầu như chúng không có delta, đồng thời thuật toán nén cũng không quá hiệu quả cho những loại file này, nên toàn bộ nội dung của file được lưu vào các git object.
Vay Tiền Nhanh Chỉ Cần Cmnd. Bài viết Đặc sắc nghệ thuật trong Chí Phèo sẽ phân tích kĩ những đặc sắc nghệ thuật khó lặp lại giúp làm nên thành công của truyện ngắn Chí Phèo Nam Cao. Tại sao đây lại là tác phẩm sống mãi với thời gian, những đặc sắc đó là gì? Hãy cùng xem bài viết Đặc sắc nghệ thuật trong Chí Phèo “Chí phèo” là tác phẩm xuất sắc nhất của nhà văn Nam Cao và cũng là tác phẩm tiêu biểu nhất của nền văn học hiện thực phê phán. Thành công của truyện ngắn Chí Phèo không chỉ ở hình tượng nhân vật Chí Phèo mà còn ở bút pháp viết truyện ngắn có một không hai của nhà văn Nam Cao.1. Bút pháp điển hình hoá đạt tới trình độ bậc thầy trong xây dựng nhân vật.Nam Cao có biệt tài trong việc miêu tả, phân tích tâm lý nhân vật. Tác giả có khả năng trong việc miêu tả tâm lý phức tạp của nhân vật, làm cho nhân vật hiện lên trước mắt người đọc rất sống động, có cá tính độc đáo. Nam cao đã sử dụng nhiều thủ pháp, nhiều phương tiện để miêu tả tâmlý nhân vật, tạo nên một chủ nghĩa tâm lý trong sáng tác của ông. Nam Cao thường sử dụng thiên nhiên làm phương tiện để thể hiện trạng thái tâm lý của nhân vật. Khung cảnh thiên nhiên được cảm nhận qua đôi mắt của Chí Phèo sau khi thức tỉnh “tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá…” là những âm thanh quen thuộc của cuộc sống mà bấy lâu nay Chí Phèo không nhận thấy, giờ trở thành tiếng gọi tha thiết kéo Chí Phèo trở lại với cuộc sống lương thiện, đánh thức khát khao lương thiện trong tâm hồn Chí Chí Phèo, Bá Kiến là những điển hình nghệ thuật bất hủ. Họ vừa tiêu biểu cho một loại người có bề dày xã hội, vừa là những con người rất cụ thể, có sức sống nội tại mạnh mẽ. Khác với những nhân vật của một số nhà văn đương thời có chức năng chủ yếu là khái quát tính cách nhân vật. “Chí Phèo” của Nam Cao đã khái quát một hiện tượng phổ biến đã trở thành quy luật trong xã hội lúc bấy giờ; hiện tượng những người nông dân nghèo lương thiện do bị áp bức bóc lột đè nén nặng nề bị đẩy vào con đường tha hoá lưu manh. Khi xây dựng nhân vật, Nam Cao tạo ấn tượng bằng hai cách hoặc là miêu tả chi tiết, đặc tả diện mạo bên ngoài, hoặc là chỉ thoáng qua, không vẽ chi tiết cụ thể về diện mạo của nhân vật. Ở những sáng tác viết về người nông dân Nam Cao thường tạo nên những nhân vật dị dạng và tập trung miêu tả chi tiết hình dáng bên ngoài của những nhân vật này. Đó là bộ mặt “nặng chình chĩnh như người phù, da như da con tằm bủng, lại lấm tấm đầy những tàn nhang. Cái trán ngắn ngủn, ngắn ngủn lại gồ lên. Đôi mắt thì híp lại như mắt lợn sề” của Lang Rận. Đó là bộ mặt “vằn dọc vằn ngang không thứ tự biết bao nhiêu là sẹo” của Chí Phèo hay bộ mặt xấu đến mức ma chê qỷ hờn của Thị Nở. Đặc tả những bộ mặt dị dạng, ghê tởm của nhân vật là cách thức để Nam Cao làm rõ hơn tính cách bên trong của nhân vật. Ẩn sâu dưới cái vẻ bề ngoài ghê tởm, đáng sợ ấy là những con người hết sức đáng thương. Do hoàn cảnh xô đẩy mà Chí Phèo từ một người nông dân hiền lành, lương thiện bị biến thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, một kẻ đâm thuê chém mướn, gây ra không biết bao nhiêu tội ác, nhưng rồi Nam Cao vẫn phát hiện ra đốm sáng lương tri còn sót lại trong con người bị tước đoạt cả nhân hình và nhân tính ấy. Chí Phèo thức tỉnh và khát khao trở lại làm người lương thiện. Thị Nở là người đàn bà xấu đến mức ma chê quỷ hờn, nhà lại có dòng giống mả hủi, Thị lại dở hơi nên cả làng Vũ Đại đều xa lánh Thị “người ta tránh Thị như tránh một con vật nào rất tởm”. Một người phụ nữ như thế mà Chí Phèo muốn chung sống làm lại cuộc đời cũng không được xã hội thừa nhận. Khi miêu tả Thị Nở Nam Cao đã sử dung bút pháp cường điệu để tô đậm cái xấu của Thị Nở, Thị Nở càng xấu thì bi kịch của Chí Phèo càng lớn. Khi xây dựng nhân vật người trí thức Nam Cao ít khi miêu tả ngoại hình. Ông chỉ chú ý đến những nét ngoại hình thể hiện tâm lý, tính cách nhân vật mà ông tập trung đi sâu vào đặc tả diện mạo tinh thần nhân vật qua những giằng xé, những cuộc vật lộn căng thẳng về tinh thần bên trong của nhân vật. Tâm lý nhân vật trở thành đối tượng chính của ngòi bút Nam Cao. Tài năng miêu tả tâm lý của Nam Cao thể hiện ở chỗ ông có khả năng nắm bắt những biến thái tinh vi, những rung động tinh tế trong tâm hồn con người. Ông là một nhà văn có biệt tài khi miêu tả những trạng thái tâm lý phức tạp, những hiện tượng lưỡng tính dở say dở tỉnh, dở khóc dở cười, mấp mé ranh giới giữa thiện và ác, hiền với dữ, giữa con người với con vật. Với tài năng bậc thầy Nam Cao đã diễn tả cụ thể, sâu sắc diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp thị Nở. Thị Nở với bát cháo hành tình nghĩa đã làm sống dậy bản chất lương thiện trong con người Chí. Sau bao nhiêu năm ngập sâu trong vũng bùn tội lỗi, giờ đây Chí Phèo lại khát khao trở về với cuộc sống lương thiện. Tuy nhiên nhân vật của Nam Cao còn thể hiện như một nhân vật có cá tính hết sức độc đáo, không lặp lại, vừa đa dạng vừa thống nhất. Chí Phèo vừa là kẻ bán rẻ cả nhân tính, nhân hình để tồn tại, vừa là kẻ dám thủ tiêu sự sống của mình khi nhân phẩm đã trở về. Chí Phèo vừa là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, một thằng triền miên chìm trong cơn say đến mất cả lý trí, vừa là kẻ khao khát lương thiện, muốn làm hoà với mọi người, vừa là một kẻ nô lệ thức tỉnh, một đầu óc sáng suốt nhất, tỉnh táo nhất của làng Vũ Đại khi đặt ra những câu hỏi có tầm khái quát sâu sắc về quyền được làm người lương thiện đến mức Bá Kiến cũng phải ngạc nhiên. Chí Phèo còn là kẻ cố cùng, vừa là người tự xưng “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”. Chí phèo, Binh chức, Năm Thọ trong “Chí Phèo” vốn là những con người lương thiện nhưng bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa, mất cả nhân hình và nhân tính. Viết về những người nông dân bị đẩy vào con đường tha hóa Nam Cao đã lên án gay gắt xã hội bất công, ngang trái đã chà đạp lên nhân phẩm con người, đồng thời phát hiện và khẳng định bản chất lương thiện vẫn luôn tồn tại ở ngay cả những con người bị tha hóa Nghệ thuật trần thuật kể truyện linh hoạt tự nhiên phóng túng mà vẫn nhất quán, chặt chẽ, đảo lộn trình tự thời gian, mạch tự sự có những đoạn hồi tưởng, liên tưởng tạt ngang, tưởng như lỏng lẻo mà thực sự rất tự nhiên, hợp lý, hấp dẫn.Ở truyện “Chí Phèo”, Nam Cao đã để nhân vật xuất hiện bắt đầu bằng tiếng chửi “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi. Bắt đầu hắn chửi trời…”. Cách mở truyện như vậy gây ấn tượng và tạo sự cuốn hút với người đọc về cuộc đời, số phận của nhân vật. Nam Cao cũng hay sử dụng và sử dụng thành công kiểu kết cấu vòng tròn. Đây là kiểu kết cấu mà phần mở đầu và phần kết thúc của tác phẩm có sự tương ứng với nhau; những hình ảnh, những tình tiết xuất hiện ở đầu tác phẩm bằng hình thức này hay hình thức khác, lại được gợi ra một cách đầy ám ảnh ở cuối tác phẩm. Hình thức kết cấu này đòi hỏi một sự sắp xếp hợp lý các sự kiện, các tình tiết tạo nên sự liên kết chặt chẽ giữa chúng. Đọc “Chí Phèo” ta cứ mãi bị ám ảnh bởi hình ảnh “chiếc lò gạch cũ” xuất hiện ở phần đầu và phần cuối tác phẩm. Hình ảnh ấy vừa có ý nghĩa mở đầu và kết thúc, khép lại cuộc đời của một kẻ khốn khổ tủi nhục nhất trong xã hội thực dân phong kiến, vừa như dự báo về sự xuất hiện của một kiếp người mà số phận chắc sẽ còn thê thảm hơn nhiều. Bằng kiểu kết cấu này Nam Cao muốn nói rằng chừng nào xã hội còn nhiều bất công, ngang trái thì chừng ấy vẫn còn nhiều cuộc đời, nhiều số phận như Chí Phèo. Ở truyện “Đời thừa” kết cấu vòng tròn lại tạo ấn tượng sâu đậm về sự luẩn quẩn, bế tắc, không lối thoát của nhân vật Hộ. Là một nhà văn có lý tưởng, có hoài bão nhưng vì lẽ sống tình thương, vì gánh nặng gia đình Hộ buộc phải hi sinh lý tưởng, viết dễ dãi để nuôi sống gia đình, vì vậy mà Hộ luôn day dứt, tự dày vò bản thân, Hộ tìm đến rượu để quên đi những đau đớn về tinh thần. Lúc say Hộ đối xử với vợ con như một kẻ vũ phu, nhưng khi tỉnh lại Hộ lại vô cùng hối hận, tuyên bố sẽ chừa rượu, nhưng rồi Hộ lại uống và lại thô bạo với vợ con …sau đó lại ăn năn, hối hận. Kết cấu vòng tròn của tác phẩm đã góp phần làm nổi bật tấn bi kịch tinh thần luẩn quẩn, không lối thoát của nhân vật Ngôn ngữ của Nam Cao cũng đặc biệt tự nhiên, sinh động, sử dụng khẩu ngữ quần chúng một cách triệt để, mang hơi thở đời sống, giọng văn hoá đời sống.Ngôn ngữ kể chuyện vừa là ngôn ngữ của tác giả, vừa là ngôn ngữ của nhân vật, nhiều giọng điệu đan xen, tạo nên một thứ ngôn ngữ đa thanh đặc Khắc họa chi tiết nghệ thuật độc đáo.– Tiếng chửi của Chí Phèo là một “đặc sản” trong truyện. Cứ rượu vào là hắn chửi. Hắn chửi tất cả từ trời đời cả làng Vũ Đại “cha đứa nào không chửi nhau với hắn” “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn”. Đối tượng chửi đã được xác định xã hội thực dân nửa phong kiến đã sinh ra cái thằng Chí Phèo, đối tượng chửi qua đó cũng thu hẹp dần chứng tỏ Chí đang rơi vào ngõ cụt của sự bế tắc. Hắn lồng lồng chửi chỉ mong có ai đó chửi lại hắn, thế nhưng cái mà Chí nhận được là “trời có của riêng nhà nào” “đời là tất cả nhưng chẳng là ai” “không ai lên tiếng cả” “không ai ra điều” “nhưng mà biết đứa nào đã đẻ ra Chí Phèo”. Đáp lại tiếng chửi ấy trớ trêu thay lại là “tiếng chó cắn lao xao”. Chí chửi tức là Chí muốn giao tiếp với mọi người nhưng tất cả đều im lặng, chỉ có “ba con chó dữ với một thằng say rượu”. Chí đã bị đánh bật ra khỏi xã hội loài người, tiếng chửi trở nên vật vã, tuyệt vọng. Tiếng chửi của Chí là tiếng nói đau thương của một con người ý thức về bi kịch của mình sống giữa cuộc đời nhưng đã mất quyền làm người Đó chính là sự đau xót của nhà văn đối với nhân vật của mình. – Chi tiết bát cháo hành của Thị Nở giống như một phép màu làm thức tỉnh con người. Hình ảnh này xuất hiện ở phần giữa truyện. Chí Phèo say rượu, gặp Thị Nở ở vườn chuối. Khung cảnh hữu tình của đêm trăng đã đưa đến mối tình Thị Nở – Chí Phèo. Sau hôm đó, Chí Phèo bị cảm. Thị Nở thương tình đã về nhà nấu cháo hành mang sang cho hắn. Bát cháo hành trong cảm nhận của Chí “Nồi cháo còn nóng nguyên… vừa mang sang Thị đã đi tìm gạo, hành thì may nhà lại còn”. Bát cháo hành khiến Chí rất “ngạc nhiên” và thấy “mắt như ươn ướt” bởi vì đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà. Bát cháo hành khiến Chí bâng khuâng nghĩa ngợi. Hắn cảm nhận “Cháo mới thơm làm sao”. Bát cháo là sự quan tâm của Thị dành cho hắn. Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm. Hắn nhận ra cháo hành rất thơm ngon. Bất cháo hành giản dị trong cảm nhận của Chí là thứ rất ngon, đó là chi tiết khiến hắn lần đầu tiên và cũng là duy nhất cảm thấy được quan tâm, nó đánh thức nhân tính bấy lâu nay bị vùi lấp trong Chí. Bát cháo hành là sự thể hiện tình yêu thương của Thị Nở dành cho Chí phèo. Đó là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng. Đó còn là liều thuốc giải cảm và giải độc tâm hồn Chí gây ngạc nhiên, xúc động mạnh, khiến nhân vật ăn năn, suy nghĩ về tình trạng thê thảm hiện tại của mình. Nó khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện. Như vậy, bát cháo hành đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay ở Chí Phèo. Hình ảnh bát cháo hành có vai trò thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật, góp phần thể hiện sinh động tư tưởng Nam Cao tin tưởng vào sức mạnh cảm hoá của tình người. – Xây dựng kết cấu vòng trò đầu cuối tương ứng rất đặc sắc. Sau khi Chí Phèo chết, ở phần kết thúc tác phẩm, Thị Nở lại xuất hiện. Thị “nhớ lại lúc ăn nằm với hắn… rồi nhìn nhanh xuống bụng”, “Đột nhiên thị thấy thoáng hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng bóng người lại qua…”. Cử chỉ và ý nghĩ của thị khiến người ta nghĩ tới sẽ lại có một Chí Phèo con ra đời …. Hình ảnh “cái lò gạch cũ” xuất hiện trong ý nghĩ của Thị ở đây nằm trong ý đồ nghệ thuật của nhà văn Một kiểu kết cấu tác phẩm đầu cuối tương ứng – kết cấu vòng tròn. Mâu thuẫn giai cấp giữa nông dân và địa chủ cường hoà một lần nữa được nhấn mạnh tô đậm. Bá Kiến chết thì có lí Cường, Chí Phèo chết thì có một Chí Phèo con sẽ xuất hiện. Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ cường hào khi âm ỉ, khi bùng lên dữ dội, song không thể giải quyết. Vấn đề những con người lao động lương thiện bị xã hội đẩy vào con đường lưu manh cùng quẫn quay lại chống trả với xã hội bằng chính sự lưu manh của mình là vấn đề thuộc về bản chất, là quy luật tất yếu khi xã hội thực dân phong kiến còn tồn tại. Hình ảnh “cái lò gạch cũ” nằm trong ý đồ nghệ thuật và là một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc của nhà văn Nam hình ảnh này, chủ đề của thiên truyện được khơi thêm những chiều sâu mới. * Nhận xét Với tất cả những đặc sắc nghệ thuật ấy, “Chí Phèo” đánh dấu một trình độ phát triển mới của văn học và nghệ thuật viết truyện ở nước ta.
Bài làm tham khảo“Chí Phèo” thật sự là một kiệt tác, thể hiện đầy đủ nhất tài năng nghệ thuật xuất sắc, độc đáo của nhà văn Nam Bút pháp điển hình hoá đạt tới trình độ bậc thầy trong xây dựng nhân vật. Nam Cao có biệt tài trong việc miêu tả, phân tích tâm lý nhân vật. Tác giả có khả năng trong việc miêu tả tâm lý phức tạp của nhân vật, làm cho nhân vật hiện lên trước mắt người đọc rất sống động, có cá tính độc đáo. Chí Phèo, Bá Kiến là những điển hình nghệ thuật bất hủ. Họ vừa tiêu biểu cho một loại người có bề dày xã hội, vừa là những con người rất cụ thể, có sức sống nội tại mạnh Khác với những nhân vật của một số nhà văn đương thời có chức năng chủ yếu là khái quát tính cách nhân vật. “Chí Phèo” của Nam Cao đã khái quát một hiện tượng phổ biến đã trở thành quy luật trong xã hội lúc bấy giờ; hiện tượng những người nông dân nghèo lương thiện do bị áp bức bóc lột đè nén nặng nề bị đẩy vào con đường tha hoá lưu Tuy nhiên nhân vật của Nam Cao còn thể hiện như một nhân vật có cá tính hết sức độc đáo, không lặp lại, vừa đa dạng vừa thống nhất. Chí Phèo vừa là kẻ bán rẻ cả nhân tính, nhân hình để tồn tại, vừa là kẻ dám thủ tiêu sự sống của mình khi nhân phẩm đã trở về. Chí Phèo vừa là con quỷ dữ của làng Vũ Đại, một thằng triền miên chìm trong cơn say đến mất cả lý trí, vừa là kẻ khao khát lương thiện, muốn làm hoà với mọi người, vừa là một kẻ nô lệ thức tỉnh, một đầu óc sáng suốt nhất, tỉnh táo nhất của làng Vũ Đại khi đặt ra những câu hỏi có tầm khái quát sâu sắc về quyền được làm người lương thiện đến mức Bá Kiến cũng phải ngạc nhiên, Chí Phèo vừa là kẻ cố cùng, vừa là người tự xưng “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”2. Nghệ thuật trần thuật kể truyện linh hoạt tự nhiên phóng túng mà vẫn nhất quán, chặt chẽ, đảo lộn trình tự thời gian, mạch tự sự có những đoạn hồi tưởng, liên tưởng tạt ngang, tưởng như lỏng lẻo mà thực sự rất tự nhiên, hợp lý, hấp Ngôn ngữ của Nam Cao cũng đặc biệt tự nhiên, sinh động, sử dụng khẩu ngữ quần chúng một cách triệt để, mang hơi thở đời sống, giọng văn hoá đời sống. Ngôn ngữ kể chuyện vừa là ngôn ngữ của tác giả, vừa là ngôn ngữ của nhân vật, nhiều giọng điệu đan xen, tạo nên một thứ ngôn ngữ đa thanh đặc sắc.“Chí Phèo” đánh dấu một trình độ phát triển mới của văn học và nghệ thuật viết truyện ở nước Thầy Nguyễn Quang NinhBình luận cho bài viết Nhận xét
HƯỚNG DẪN TRUYỆN NGẮN CHÍ PHÈO - Chí Phèo lúc đầu được Nam Cao đặt tên là Cái lò gạch cũ, khi ra mắt độc giả lần đầu, để “câu khách”, nhà xuất bản tự ý đổi tên thành Đôi lứa xứng đôi in trong tập Đôi lứa xứng đôi, gồm 11 truyện ngắn, NXB Đời mới, Hà Nội, 1941. Sau này, khi in lại trong tập Luống cày Hội Văn hoá cứu quốc xuất bản, Hà Nội, 1946, Nam Cao đặt lại tên truyện là Chí Phèo. - Chí Phèo là truyện ngắn xuất sắc nhất của Nam Cào và được coi là một kiệt tác của văn xuôi hiện đại Việt Nam. Qua truyện ngắn này, có thể thấy được bút pháp hiện thực độc đáo, mới mẻ và tinh thần nhân đạo sâu sắc của Nam Cao. Đoạn trích trong SGK tuy đă lược bớt vài đoạn vì truyện quá dài, nhưng người đọc vẫn có thể hình dung được toàn bộ câu chuyện và nắm được tinh thần tác phẩm. NỘI DUNG l. Cuộc đời cùng quẫn của Chí Phèo - Vốn là một đứa trẻ bị bỏ rơi “trần truồng và xám ngắt trong một váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không”, Chí Phèo được người làng nhặt về và chuyền tay nhau nuôi, lớn lên Chí đi làm canh điền cho lí Kiến, bị ông lí ghen rồi đẩy vào tù. - Ở tù ra, Chí Phèo biến đổi hẳn, từ một anh nông dân hiền lành, lương thiện, hắn trở thành một kẻ côn đồ cả về tâm tính lẫn ngoại hình “cái đầu thì trọc lốc cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất câng câng”, ngực và cánh tay “đầy những nét chạm trổ” người ta thấy hắn “ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ sáng đến chiều”, và “cứ rượu xong là hắn chửi”, có khi còn “lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mảnh chai cào vào mặt” để “ăn vạ”,... - Một lần đến nhà bá Kiến rạch mặt ăn vạ, Chí Phèo bị ông bá dụ dỗ, giao cho việc đi đòi nợ đội Tảo, từ đó hắn trở thành tay sai đắc lực của bá Kiến. Chí Phèo không ý thức được mình đã biến thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, “làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện”, bởi vì hắn làm tất cả những việc người ta sai hắn làm trong lúc say. Mà những cơn say của hắn thì triền miên, không bao giờ chấm dứt, “hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say... đập đầu rạch mặt, chửi bới, doạ nạt trong lúc say...”. Đến cái mặt của hắn cũng biến đồi, “không còn phải là mặt người nó là mặt một con vật lạ”, nó “vàng vàng mà lại muốn sạm màu gio”, nó “vằn dọc vần ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo”. Cuộc đời chí Phèo tiêu biểu cho số phận bi thảm của những người nông dân cùng khố trong xã hội cũ. Thế lực của bọn cường hào ác bá ở thôn quê kết hợp với nhà tù thực dân đã đẩy người nông dân lương thiện vào con đường lưu manh hoá, dẫn đến sự huỷ hoại cả nhân tính lẫn nhân hình. 2. Ước muốn được trở lại làm người lương thiện của Chí Phèo - Cuộc đời Chí Phèo sẽ mãi mãi ngập sâu trong tội ác nếu không có sự gặp gỡ với thị Nở. Giữa người đàn bà đần độn, “xấu ma chê quỷ hờn” và một gã đàn ông “chỉ sống bằng cướp giật và doạ nạt” đã nảy xinh một tình cảm trong sáng nhất của loài người tình yêu. Tình cảm ấy đã thức dậy ở Chí Phèo niềm khao khát về một mái ấm gia đình giản dị, yên bình “chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải...”. Chí Phèo và thị Nở đã nhất định lấy nhau để sống một cuộc đời lương thiện như bao nhiêu người khác. - Con đường hoàn lương của Chí Phèo đã gặp ngay trở ngại đầu tiên bà cô của thị Nở. Định kiến về Chí Phèo - “một thằng không cha”, “chỉ có một nghề là rạch mặt ra ăn vạ” - đã khiến bà cô coi việc thị Nở định lấy Chí Phèo là một sự “nhục nhã” không thể chấp nhận được. Bà trút tất cả sự uất ức vào thị Nở. Và thị Nở, trong cơn giận dữ, tìm đến Chí Phèo và “trút vào mặt hắn tất cả lời của bà cô”. - Chí Phèo sửng sốt, hấn uống thật say để đến nhà thị Nở “đâm chết cái con khọm già nhà nó”, nhưng bước chân quen đường trong cơn say lại đưa hắn đến nhà bá Kiến. Khác với mọi lần, Chí không nhận tiền mà dõng dạc yêu cầu “Tao muốn làm người lương thiện”. Trong cơn say, Chí Phèo vẫn tỉnh táo nhận rạ Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa”. Con đường trở lại làm người lương thiện của Chí Phèo đã hoàn toàn bế tắc, bằng trực giác, Chí đã nhận đúng mặt kẻ thù, hắn xông vào đâm chết bá Kiến và tự kết liễu đời mình. Nam Cao đã nhận ra ngay trong những con người tưởng như đã mất hết nhân tính vẫn còn le lói chút ánh sáng của lương tri. Mô tả con đường hoàn lương đau đớn, bi kịch không được làm người của Chí Phèo, nhà văn đã thể hiện một tấm lòng nhân đạo sâu sắc, đầy sự cảm thông đối với lớp người dưới đấy”. NGHỆ THUẬT 1. Xây dựng tính cách điển hình sắc nét - Nhân vật Chí Phèo Đây là hình tượng thành công nhất của ngòi bút hiện thực Nam Cao. Chí Phèo không chỉ điển hình cho một bộ phận cố nông bị lưu manh hoá mà nhân vật này còn mang ý nghĩa khái quát rộng lớn cuộc đời và số phận của Chí thể hiện một quy luật có tính phổ biến trong xã hội cũ là quy luật bần cùng hoá, rồi đi đến lưu manh hoá của những người dân lành. Trong tác phẩm, Chí Phèo hiện hình thành “con quỷ dữ” chuyên đập phá, kêu gào, chửi bới, rạch mặt ăn vạ với những cơn say triền miên, bất tận... Đó là tính cách riêng của Chí, nhưng con đường tha hoá của Chí Phèo cũng là con đường của những năm Thọ, binh Chức,... trong tác phẩm. Mỗi người một cảnh, họ đều là nạn nhân của bọn cường hào ác bá ở đây là bá Kiến và là sản phẩm của nhà tù thực dân. Còn những thế lực bạo tàn đó thì hiện tượng Chí Phèo vẫn còn tiếp diễn, không phải vô cớ mà tác giả đã nhắc lại hình ảnh “cái lò gạch bỏ không” ở cuối truyện. Với ngòi bút phân tích tâm lí sắc sảo, Nam Cao đã khắc hoạ thành công hình tượng Chí Phèo, một nhân vật điển hình vừa có tính riêng sinh động vừa mang tính chung phổ biến. Nét đặc sắc riêng của hình tượng Chí Phèo còn được khắc hoạ sâu sắc hơn trong bi kịch của nhân vật. Khi lương tri thức tỉnh, Chí thèm khát được trở lại làm người lương thiện thì lại bị chính cái xã hội của những người lương thiện chối bỏ. Lần đầu tiên, cơn giận dữ của Chí Phèo mang nỗi uất hận đau đớn của một kẻ không được làm người. Sự thức tỉnh của Chí Phèo là một phát hiện sâu sắc, đầy tính nhân đạo của Nam Cao khi xây dựng nhân vật điển hình. - Nhân vật bá Kiến Bên cạnh Chí Phèo, bá Kiến cũng là một tính cách điển hình chân thực và sinh động. Người ta không thể quên được “cái cười Tào Tháo” của cụ bá cùng những toan tính nham hiểm của nhân vật này “Hãy ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn đập ghế, đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vứt trả lại năm hào “vì thương anh túng quá”. Vừa xảo quyệt, gian hùng vừa đê tiện, bá Kiến là nhân vật tiêu biểu cho lớp cường hào ác bá những đội Tảo, tư Đạm, bát Tùng,... Ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng, những kẻ có quyền sinh quyền sát, tha hồ làm mưa làm gió ở làng quê. Có thể nhận ra bàn tay của bá Kiến trong việc xô đẩy người dân lương thiện vào cảnh khốn cùng rồi biến họ thành tay sai gây tai hoạ cho chính những người lương thiện. Bá Kiến và những kẻ như hắn mới thực là “con quỷ dữ” giấu mặt của làng Vũ Đại. Từ tác phẩm, nhưng nhân vật điển hình như Chí Phèo, bá Kiến đã bưởc thẳng vào cuộc sông, tên nhân vật đã trở thành tên gọi chung cho loại người mang tính cách tương tự như nhân vật trong tác phẩm. Điều thú vị là những danh xưng ấy còn tồn tại dai dẳng cho đến ngày nay. 2. Cốt truyện dộc đáo, các tình tiết giàu kịch tính, luôn biến hoá mang lại nhiều bất ngờ cho người đọc Dù không được kể theo trình tự thời gian nhưng lai lịch và diễn biến cuộc đời của mỗi nhân vật đều được xâu chuỗi rất lôgíc và sinh động các sự kiện trong cuộc đời Chí Phèo được chắp nối qua lời trần thuật và dòng hồi ức rải rác trong truyện. Hầu như mỗi tình tiết đều ẩn chứa rất nhiều sự bất ngờ chỉ mấy lời ngọt nhạt mà bá Kiến đã dẹp yên được sự ăn vạ ầm ĩ của Chí Phèo, có nhiều chi tiết tưởng như ngẫu nhiên nhưng hoá ra lại là những móc xích bên trong nối vào nhau chặt chẽ chi tiết Chí Phèo xăm xăm đến nhà thị Nở nhưng bước chân lại dẫn hắn đến nhà bá Kiến, chi tiết thị Nở liếc nhìn bụng và nghĩ đến “cái lò gạch bỏ không”,.... Hành động quyết liệt của Chí Phèo và cái chết bi thảm của Chí là bước kết thúc bất ngờ nhưng nhất quán với sự phát triển của tính cách nhân vật. 3. Cách dẫn chuyện linh hoạt và vô cùng hấp dẫn Đoạn mở đầu rất độc đáo gây ấn tượng mạnh bi lối trần thuật nửa trực tiếp, có sự đan xen giữa lời người kể chuyện “Hắn vừa đi vừa chửi...” với độc thoại của nhân vật Ờ! Thế này thì tức thật!..J. Tác giả đã phá vỡ trật tự thông thường, dùng lối tự sự theo dòng nội tâm nhân vật để thuật lại diễn biến sự việc. Vì thế, trong lời trần thuật, hiện tại và hồi ức cứ lồng ghép vào nhau đoạn mở đầu, đoạn tả Chí Phèo “bâng khuâng tỉnh dậy sau một cơn say rất dài” ở cuối truyện,..., lời người kể và lời nhân vật có khi nhập vào nhau khiến cho điểm nhìn trần thuật cũng thay đổi một cách linh động lúc thì câu chuyện được thuật lại bằng một cái nhìn khách quan từ bên ngoài, lúc lại chuyển hoá thành điểm nhìn chủ quan của nhân vật từ bên trong. So với dung lượng của một truyện ngắn thì đây là một truyện tương đối dài, nhưng nó không hề nhàm chán bởi cách dẫn chuyện luôn biến ảo cùng những độc thoại nội tâm sinh động chẳng hạn độc thoại nội tâm của Chí Phèo sau cơn tỉnh rượu.
nghệ thuật chí phèo